Hành trình đến Harvard – Phuc Huynh

Hành trình đến Harvard – Phuc Huynh

Buổi outreach giúp đỡ cộng đồng - Harvard Kennedy School

Buổi outreach giúp đỡ cộng đồng – Harvard Kennedy School

Phúc Huỳnh – Cofounder– Viết cho Thư Quán Doanh Nhân.

From Boston, MA, U.S

Thời gian trôi nhanh. Mới đó đã hơn một tháng kể từ ngày nhập học. Buổi tựu trường đến đúng vào ngày 9-5, trùng với ngày tựu trường ở Việt Nam. Sinh viên nô nức ngồi chật khán phòng. Nhận ra lá cờ đỏ sao vàng Việt Nam treo xa xa, giữa muôn rừng cờ. Một chút bâng khuâng, một chút tự hào, và cảm thấy nhỏ bé…

Mọi thứ đã bắt đầu quen dần. Sau một tuần orientation, các sinh viên bắt đầu vào học chính thức, được chọn một danh sách hơn cả trăm môn học, chọn ra 5 môn học yêu thích. Trải qua 2 kỳ thi căng thẳng gọi là exemption exam ngay tuần đầu tiên để để được miễn học một số môn. Nếu đậu, được miễn học môn đó và chọn các môn khác thích hơn. Đậu 1, rớt 1. Dường như môn nào cũng hay, và cũng mới lạ với mình. Bidding là nét đặc biệt của Harvard, vì diện tích phòng học có giới hạn mà sinh viên đăng ký thì đông vô kể, nhất là môn có thầy giỏi dạy và có tiếng. Một số môn học rất “hót” ấy được đem ra bid, hoàn toàn online, sinh viên nào thích thì bid nhiều điểm hơn, bid cẩn thận vì nếu bid nhiều môn này thì môn sau hết điểm để bid. Học kì này mình đã bid thành công môn “Strategic management of nonprofit and non governmental organizations” và môn “Advanced Risk Management in Project Finance”. Một số sinh viên của MIT (Massachusetts Institute of Technology), Wharton (University of Pennsylvania), và  Fletcher cũng tham gia vào các khóa học này. Nhiều bạn học dự thính (auditor) bị buộc phải ra ngoài vì lớp học không đủ. Một số bạn đầu đã bạc cũng đi học, kiến thức vô cùng uyên thâm còn tính tình vô cùng dễ thương, và gần gũi. Các thầy cô luôn làm mình choáng ngợp với bài giảng được thiết kế vô cùng ấn tượng, và giỏi vô cùng, nhưng cũng thân thiện vô cùng với sinh viên. Mình có cảm giác rằng khi người ta càng biết nhiều, càng giỏi thì càng khiêm tốn. Tò mò thử search tên của thầy cô, hiện ra một list dài các công trình nghiên cứu và các project của họ làm với các công ty hàng đầu – càng làm mình khâm phục hơn. Case Study và lý thuyết được hòa quyện với nhau vô cùng khoa học. Tuy nhiên, mình vẫn còn cảm thấy có một khoảng cách văn hóa khá lớn với các bạn Mỹ. Họ nói nhiều chuyện mà mình không hiểu, dùng nhiều idiom mình chưa biết như “Phuc, do not throw good money after bad” hay “we get off on the wrong foot. You are set to be my political adversary in this case, Phuc” trong giờ Negotiation Simulation… Nghe chóng cả mặt. Còn phải học hỏi nhiều.

Học thông qua case method là một điểm mạnh của Harvard. Các case của học kỳ đầu tiên đến 80% lấy từ Harvard Biz School, Harvard Biz Review, và Stanford Biz School. (Ảnh hưởng của Business School rất lớn) còn các bài đọc rất nhiều, để rồi cuối tuần tha về nhà một mớ assignment để làm. Làm đến đầu tuần thì nộp bài. Các bài này được nộp vào đầu tuần sau khi đến lớp và được trả một tuần sau khi nộp. Các bài được chấm bởi các TA và CA, còn thầy cô thì chỉ làm nghiên cứu và giảng dạy. Một điều lạ, các bài phát ra không bài nào có ghi bao nhiêu điểm, chỉ tick một tick. Nếu xuất sắc thì được thêm một dấu cộng bên cạnh cái tick. Đây đã là văn hóa của Harvard và nhiều trường ở Mỹ, mà lý do chính là thầy cô cố gắng hạn chế ganh đua so sánh điểm trong lớp giữa bạn này với bạn kia, để môi trường học tập hoàn toàn trong sáng, giảm bớt tính ganh tị. Mình lại bồi hồi nhớ lại thời đi học cấp 3 và đại học ở Việt Nam, lúc điểm mọi người được dán rành rành trên bảng thông báo, lúc thầy cô đọc dõng dạc trước lớp điểm của mọi học sinh, lâu lâu làm em ngượng chín cả mẹt, vì em làm văn dở quá (y chang như bài viết này)

Cách giảng dạy trong lớp rất interactive. Các thầy cô rất giỏi và liên tục push và challenge học sinh. Họ dùng chính thông tin khảo sát sinh viên của ngày hôm trước và áp dụng nó trực tiếp vào bài giảng của ngày hôm sau, và kết nối trực tiếp với Case Study và bài đọc. Để làm được như vậy, lớp học lúc nào cũng có 2 CA (Course Assistants) và 1 Writing Coach và 1 Course faculty staff. Sau giờ học và simulation, họ phải thu thập, phân tích ngay trong đêm hôm đó, sau buổi học…để ngày hôm sau lớp học bắt đầu, thông tin ra lò nóng hổi. Về điểm này, Harvard làm  tốt hơn nhiều so với trường cũ (vốn hiếm có TA và staff ngồi cùng với lớp). Thầy cô luôn khuyến khích và các sinh viên thì giơ tay rào rào để trả lời câu hỏi, các bạn Mỹ nói nhiều hơn các bạn Quốc tế. Lâu lâu thầy cô “Gọi lạnh” (Cold Call) một bạn hồi giờ ít phát biểu trong lớp trả lời câu hỏi (phần lớn là các bạn sinh viên quốc tế bị dính). Lâu lâu mình cũng lạnh hết cả người. Có cảm tưởng mỗi một giờ học mình là chiến sĩ, luôn phải đề phòng cảnh giác. Sau giờ học, vô số các câu lạc bộ, networking, career counsel,  và talk series mà bạn không bao giờ có thể dành được đủ thời gian để tham dự.

Một tuần học đã trôi qua, cuối tuần lại đến, lại có một chút thời gian thong thả, đi chợ mua đồ về nấu nướng và trả lời các câu hỏi của các em, làm việc với team volunteer TQDN, trả lời các câu hỏi của một số em hỏi thăm kinh nghiệm xin học bổng (mà thực ra cũng không biết tư vấn sao). Tự cho mình một khoảnh khắc hồi tưởng lại quá trình đến với Harvard để trả lời câu hỏi các em. Quyết định đó hoàn toàn ngẫu nhiên và không có một sự chuẩn bị nào cả. “Ask what you can do for your country”, vô tình mình bắt gặp câu này trên từ Harvard Kennedy School trong lúc lang thang trên net tìm kiếm chương trình học PhD in Finance trong kì nghỉ winter break và cũng là lúc đang xem bộ phim Chuyện tình Harvard, ghiền đến bỏ ăn bỏ ngủ. “Tôi tên là Lee Soo-In, từ nhỏ tôi ước mơ làm bác sĩ để cứu chữa người nghèo. Còn tôi là Kim Hyung Woo, tôi muốn làm luật sư để giúp đỡ người nghèo thắng kiện…” Bộ phim đã tiếp thêm động lực để mình hoàn thành gấp rút hồ sơ.

Mình chợt phát hiện còn hơn 1 tuần nữa là deadline. Muộn quá rồi. Chuẩn bị kịp không? Họ yêu cầu gì? Còn $200 tiền trong tài khoản và chỉ đủ để apply một trường duy nhất. Viết bài luận, gửi email cho thầy cô và Sếp nhờ viết reference letter, xin bảng điểm đại học và MBA, gửi bảng điểm GMAT, Hoàn thành thủ tục xin học bổng của trường. Xong. Nhắm mắt click vào nút application và bay mất $200 trong tài khoản. Mình apply đúng một trường duy nhất, giống y chang như lúc apply MBA cho Missouri (dẫu biết là rủi ro cao hơn khi chỉ apply 1 trường nhưng mình không có tiền bạc và sức lực để apply cho nhiều trường, vì mỗi trường ngoài tiền application fee bạn còn phải gửi bảng điểm đại học từ VN sang Mỹ, gửi điểm GMAT và TOEFL cho họ, và có thể sẽ phải làm riêng một số câu hỏi cho bài essay, phỏng vấn…). Tôi biết tôi chỉ có một ngọn lao duy nhất, phải mài cho kỹ và ném vút… vào khoảng không vô định. Điều đặc biệt quan trọng, bảng điểm GMAT mặc dù đã thi từ cách đó 2 năm rưỡi, giờ vẫn dùng được vì bằng hết hạn 5 năm. Harvard Kennedy School lại chấp nhận GMAT. (Chương trình sau đai học của hệ thống Harvard: School of Education, Business School, Design School, School of Design, School of Public Health đều chấp nhận GMAT). GMAT giờ được chấp nhận rộng rãi hơn mình tưởng, không chỉ cho business và MBA. Mừng thầm.

Tin nhận được thư mời học (Admission Letter) và học bổng International Student Merit Fellowship đến vào 3 tháng sau đó. Ngọn lao đã đến đích trong lúc đang quây quần tại bàn bi-da cùng các bạn, rảnh rỗi chờ hết lượt đánh của anh bạn, check email. Gọi ngay về nhà: “Má ơi con được Harvard nhận rồi. Má mừng trước rồi chuẩn bị lo sau má nhé. Báo cho ba biết dùm con”

Cuối tuần lại đến, làm việc với các em volunteer thân yêu, ngồi nghe tiếng dế kêu râm ran ngoài cửa sổ và đón chờ một mùa đông rất rét mướt sắp đến Boston, lật giở lại 6 cuốn sách CFA Level 3 mà chỉ cuối tuần mới có thời gian rảnh rỗi mở ra xem, nhận thấy khả năng thi lại sẽ rất cao nếu vẫn cứ “underallocate time” như vậy.

Hít thở một hơi dài giữa màn đêm tĩnh mịch. Đã 3 năm rồi chưa đón tết cùng gia đình. Đi xa là nhớ, ở là thương. Ôi Việt Nam yêu dấu.

Share this post

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *